Liên kết website
Bản đồ hành chính
ban do bac ho Cổng thông tin điện tửTỉnh Khánh HòaCổng thông tin điện tử tỉnh Khánh HòaCổng thông tin điện tử chính phủHệ thống vb pháp luậtTruong xa
Thống kê truy cập

Lịch sử hình thành

TỔNG QUAN NINH VÂN

 

Vị trí địa lý

Ninh Vân là xã bán đảo nằm về phía cực đông của thị xã Ninh Hòa, nằm cách trung tâm thị xã 36km về phía Đông Bắc (theo tỉnh lộ 1B); cách thành phố Nha Trang trên 10 hải lý về hướng Tây Nam; chiều dài bờ biển 25km. Phía đông giáp Biển Đông; phía Bắc giáp Vịnh Vân Phong; phía Nam giáp đầm Nha Phu, phía Tây giáp đất liền (các xã Ninh Phú, Ninh Phước) nhưng bị ngăn cách bởi dãy Hòn Hèo. Có tọa độ 12,385o vĩ bắc; 109,317o kinh đông.

           Đặc điểm tình hình

Ninh Vân có diện tích tự nhiên 4.521,25 ha, trong đó đồi núi chiếm hơn 30%; đất nông nghiệp chiểm khoản 21,59%; hầu hết là đất cát; chiều dài bờ biển 25,265 km; dân số 2.035 người, gồm có 02 thôn: thôn Đông và thôn Tây, nhân dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp và ngư nghiệp.

Ninh vân là xã bán đảo có địa hình núi cao là chủ yếu. Bị chia cắt bởi các dãy núi thấp dần từ phía Tây và phía Nam.

Địa hình núi cao có độ dốc lớn, phân bổ ở phía Nam, Tây của xã, thảm thực vật chủ yếu là cây, lùm, bụi. Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 800m,vùng này chủ yếu là đối núi chưa sử dụng.

Địa hình đồi núi thấp: Tiếp giáp với vùng núi cao là vùng núi thấp thoải dần về hướng Đông Bắc; vùng này chủ yếu là đất trồng cây lâu năm, trồng rừng và một số diện tích đất đồi chưa sử dụng.

          Khí hậu

Khí hậu Ninh Vân nằm trong tiểu vùng khí hậu đồng bằng ven biển, mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa, thường xuyên có nhiều mây phủ trên các triền núi. Hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12, lượng mưa trung bình là 1.359 mm/năm, thường có gió Đông Bắc kèm theo mưa rào, trời cũng se lạnh nhưng không rét buốt. Mưa rào cường độ lớn, kéo dài trong nhiều ngày, gây lũ tiểu mãn, lũ quét. Tuy nhiên, mưa hiếm khi kèm theo bão. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam. Vào mùa này Ninh Vân có mưa rào nhưng không thường xuyên; mặc dù vậy Ninh Vân ít xảy ra thiếu nước sản xuất và sinh hoạt do có lượng nước ngầm cùng với nước từ các suối trên triền núi khá phong phú. Nhiệt độ trung bình hàng năm 270C. Độ ẩm trung bình 80%; lượng bốc hơi trung bình khoảng 1.200 mm; số giờ nắng trong năm khoảng hơn 2.500 giờ. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 1.400mm đến 1.800 mm. Ở một số nơi như suốt Cát (đồi Lạnh), nơi Tỉnh ủy từng đóng cơ quan khí hậu khá mát mẻ, mang tính chất đặc trưng của vùng ôn đới.

          Hệ thống sông suối và nguồn nước

Trên địa bàn có suối Nước ngọt là hệ thống suối chính bắt nguồn từ  khu vực núi đổ về tại thôn Tây. Ngoài ra do là một xã biển Đảo nên nguồn nước sinh hoạt của người dân phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên.

Nước mặt: nguồn nước mặt trên địa bàn gồm nước từ suối Nước Ngọt.

Nước ngầm: Do địa hình cao nên hiện tại giếng đào của các hộ dân cho thấy độ sâu có nước từ 6m – 40m, tuỳ khu vực.

Như tất cả các xã biển đảo khác trong tỉnh Khánh Hoà thì xã Ninh Vân có sở hữu tài nguyên nước mặn phong phú. Nguồn nước mặn này đa số để nuôi trồng các loại thuỷ hải sản có hiệu quả kinh tế cao.

          Tài nguyên thiên nhiên

Xã Ninh Vân được thiên nhiên ưu đãi khá nhiều. Trên địa bàn xã hiện có khu nghỉ dưỡng sinh thái Six senses Hideaway; khu nghỉ mát An Lâm Ninh Vân bay đã hoạt động; khu du lịch hiện đang được đầu tư khai thác đó là khu Du lịch Đảo San Hô; Khu du lịch Biển Xanh; Edenresor... Đây là một trong những tài nguyên tiềm năng của xã. Trong thời gian tới cần đẩy mạnh hơn nữa việc thu hút nguồn đầu tư vào khu du lịch tiềm năng này để Ninh Vân có thể hoàn thiện công cuộc chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp.

Có diện tích đất sản xuất nông nghiệp tương đối lớn, đặc biệt là đất sản xuất rừng trên các đồi núi vốn chiếm phần lớn diện tích toàn xã.

Rừng Ninh Vân có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại động thực vật hoang dã, quý hiếm như: cọp, voi, nai, tê tê, voọc, nhím, sóc, heo rừng…; về thực vật có: mây hèo[1], trắc, trầm hương, kỳ nam; các loại cây thuốc như xáo tam phân, i dĩ, mã tiền… Etienne Aymonier trong cuốn “Notes sur l’Annam, le Khánh Hoà” xuất bản năm 1886 đã ghi nhận “phía đông nam đồng bằng Ninh Hòa là bán đảo Hòn Hèo (les monts du rotin) nằm ở giữa vịnh có tên trên bản đồ là Bình Cang và vịnh Hòn Cohe (Hòn Khói). Bán đảo này có nhiều núi rừng, đỉnh cao nhất là 850 mét. Ở vùng này, có rất nhiều cọp

Có hệ thống suối tự nhiên và rừng nên có thể kết hợp phát triển các loại du lịch sinh thái.

          Lịch sử

Trước thế kỷ XVII, Ninh Vân cũng như toàn bộ vùng đất Khánh Hòa ngày nay do người Chăm định cư và sinh sống. Họ gọi vùng đất Khánh Hòa là Kauthara. Nhiều mả vôi của người Chăm hiện còn sót lại ở Ninh Vân ngày nay là một trong những minh chứng cho điều đó. Trong quá trình biến thiên của lịch sử, họ di cư về các tỉnh phía Nam.

Trải qua nhiều đổi thay của lịch sử, Ninh Vân đã nhiều lần tách nhập cũng như thay đổi tên địa danh:

Những cư dân người Kinh đầu tiên đến lập làng tại Ninh Vân khoảng từ nửa cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII. Theo những bậc cao tuổi hiện còn lại ở Ninh Vân thì người đầu tiên lập làng chính là cụ Võ Lý. Những người dân đầu tiên đến Ninh Vân có lẽ đi theo hải trình giao thương Bắc – Nam nên họ mới định cư sát Mũi Cây Sung. Vè Các lái – “cẩm nang” của người đi biển xưa còn lưu truyền về địa danh này:

Cây Sung mũi Cỏ đà qua

Hòn Hố, Hòn Đụn liên kinh

Chà Là, Hố Đụn, Chóp Vung

Kinh ngoài Hòn Bạc, kinh trong Ninh Hòa

Một địa danh tưởng chừng hoang vu do cách trở với đất liền nhưng được lưu lại thành văn khá sớm. Trong nhiều cuốn sách của các nhà viễn dương và nghiên cứu văn hóa người Pháp mà tiêu biểu là An Nam Đại quốc họa đồ của Taberd (xuất bản năm 1838), Mũi Cây Sung (Cap Sec) được ghi nhận là cực Đông của bán đảo Hòn Hèo. Do định cư sát Mũi Cây Sung nên những lưu dân đầu tiên mới gọi tên làng mình là Cây Sung thôn (hay thôn Cây Sung). Cây Sung thôn thuộc Thuộc Hà Bạc, huyện Quảng Phước, phủ Thái Khang[2] (sau là Bình Khang, Bình Hòa). Tên gọi này tồn tại đến giữa thế kỷ XVIII.

Từ giữa thế kỷ XVII, như nhiều địa danh khác trên cả nước lúc bấy giờ được đổi theo lối hán hóa, không còn thuần nôm; thôn Cây Sung được đổi thành thôn Đầm Vân. Về địa danh “Đầm Vân” hiện có nhiều cách giải thích khác nhau. Theo Đồng Khánh địa dư chí do Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi thôn Đầm Vân[3] thuộc Tổng Phước Hà Nội, huyện Quảng Phước, phủ Ninh Hòa.

Theo những ghi nhận thực địa thì “Đầm Vân là một cái đầm nằm ở cực đông Hòn Hèo… Một làng nhỏ nằm trên bãi cát phía bắc đầm, mang tên là Đầm Vân”. Ý kiến này dựa trên vị trí quần tụ dân cư của làng trong lịch sử. Nhưng dù xuất phát từ cơ sở nào thì tên gọi Đầm Vân vẫn chỉ một vùng đất được ghi dấu trong lịch sử Nam tiến thời Chúa Nguyễn.

Đến năm 1931, Pháp cắt 7 làng từ đèo Rọ Tượng trở vào gồm: Phú Hữu, Vạn Thuận, Tân Phú, Ngọc Diêm, Cát Lợi, Lương Sơn và Đầm Vân nhập vào tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương[5]. Có lẽ vì vậy mà hiện nay có khá nhiều người dân thôn Đầm Vân có quan hệ họ hàng với người dân Nha Trang[6].

Sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh số 63/SL, ngày 22/11/1945 về tổ chức chính quyền nhân dân địa phương. Theo đó, quy định lấy xã làm đơn vị hành chính cấp thứ tư, bỏ cấp tổng. Từ đây đến năm 1975, về mặt phân định địa giới hành chính có sự khác nhau rất rõ giữa chính quyền cách mạng và chính quyền thực dân – tay sai.

Về phía chính quyền cách mạng, thực hiện sắc lệnh số 63/SL, để thuận tiện cho việc thống nhất chỉ huy phong trào cách mạng chung, năm 1946, thôn Đầm Vân được chính quyền cách mạng nhập với 3 thôn: Ninh Tịnh, Ninh Yển, Mỹ Giang thành lập xã Phát Đạt.

Cuối năm 1947, để thuận lợi trong việc chỉ đạo phong trào đấu tranh của quần chúng và lực lượng vũ trang, phủ Ninh Hòa đã nhập 3 xã Trịnh Phong (Ninh Hải ngày nay), Xuân Phương (Ninh Diêm và Ninh Thủy ngày nay) và Phát Đạt thành Khu Hòn Khói và thành lập Ủy ban kháng chiến Hành chính khu Hòn Khói. Đầm Vân lúc này trực thuộc Ủy ban kháng chiến Hành chính khu Hòn Khói.

Năm 1949, khu Hòn Khói chia thành hai xã là Hòa Nhân (bao gồm các phường Ninh Hải, Ninh Diêm và Ninh Thủy ngày nay) và xã Hòa Tín. Đầm Vân lúc này trực thuộc xã Hòa Tín (xã Phát Đạt cũ).

Năm 1962, sau khi Đồng Khởi, giành chính quyền cách mạng; ta quyết định thành lập bộ máy hành chính lâm thời của xã Ninh Phước (trên cơ sở xã Hòa Tín trước năm 1954), thôn Đầm Vân được xem là một thôn trực thuộc xã Ninh Phước.

Về phía chính quyền địch, trong suốt thời kỳ 1945 – 1954, địch không thay đổi gì nhiều về mặt đơn vị hành chính của thôn Đầm Vân. Chúng vẫn xem thôn Đầm Vân thuộc tổng Xương Hà, quận Vĩnh Xương (Từ năm 1949, địch đổi các tên gọi phủ, huyện thống nhất thành quận, các tổng và thôn (xã) chúng vẫn giữ nguyên cách gọi theo cũ).

Năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm sắp xếp lại các đơn vị hành chính. Trên cơ sở các thôn Ninh Tịnh, Ninh Yển, Mỹ Giang; xã Ninh Phước được thành lập. Tuy nhiên, về mặt hành chính, địch vẫn xem Đầm Vân là một thôn thuộc quận Vĩnh Xương như thời kỳ trước năm 1954[7], điều này kéo dài đến tận năm 1975. Tuy nhiên, sự công nhận này chỉ có tính chất tượng trưng, chiếu lệ do bộ máy hành chính – kìm kẹp mà địch dựng lên chỉ thực sự tồn tại trong vòng 7 năm đầu sau ngày Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết.

Cụ thể, trong giai đoạn đầu (1955 – 1956), Đầm Vân cùng với 8 thôn khác là Cù Lao, Xương Huân, Xóm Cồn, Đường Đệ, Lương Sơn, Võ Tánh, Phú Xương, Thanh Hải thuộc liên xã Vĩnh Hải[8]. Từ năm 1956, địch tiến hành sắp xếp lại bộ máy hành chính của quận Vĩnh Xương. Đầm Vân cùng với 4 thôn (ấp) khác là Lương Sơn, Võ Tánh, Văn Đăng (Trung Đức), Cát Lợi tạo thành xã Vĩnh Lương[9]. Địch giữ nguyên cách tổ chức hành chính này đến ngày 30/4/1975.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, bộ máy chính quyền cách mạng được thành lập một cách đầy đủ, thôn Đầm Vân chính thức là một thôn trực thuộc xã Ninh Phước, huyện Ninh Hòa (huyện Khánh Ninh trong thời gian 1976 – 1979)  

Đến tháng 10 năm 1981, trước yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, tạo điều kiện phù hợp cho mỗi địa phương có thể phát huy cao độ mọi tiềm năng của mình, theo Quyết định số 100/HĐBT, ngày 30/9/1981 của Hội đồng bộ trưởng, thôn Đầm Vân được chia tách khỏi xã Ninh Phước, trở thành xã Ninh Vân, huyện Ninh Hòa. Như vậy, địa danh Ninh Vân mới chỉ xuất hiện từ sau năm 1981. Tên gọi Ninh Vân chiết tự gồm 2 chữ “Ninh” là chữ cái mở đầu các xã của huyện Ninh Hòa; “Vân” chính là chữ cái trong địa danh “Đầm Vân” cũ. Nó mang ý nghĩa thôn được nâng cấp thành xã có nguồn gốc từ thôn “Đầm Vân” ngày trước.

Ngày 25/10/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP về việc thành lập thị xã Ninh Hòa và các phường thuộc thị xã Ninh Hòa. Xã Ninh Vân là 01 trong 27 xã, phường thuộc thị xã Ninh Hòa.

Mặc dù trải qua nhiều lần tách nhập với các đơn vị hành chính khác nhau như: Thuộc Hà Bạc, Tổng Phước Hà Nội (Quảng Phước), Vĩnh Lương (Vĩnh Xương); Phát Đạt, Khu Hòn Khói, Hòa Tín, Ninh Phước (huyện Ninh Hòa, nay là thị xã Ninh Hòa) và bản thân các địa danh “Cây Sung”, “Đầm Vân” không còn hiện diện về mặt hành chính nhưng nó sẽ được ghi nhận như một cái tên gắn liền với quá khứ hào hùng từ khi ông cha đi mở cõi, lập làng đến những năm chống thực dân đế quốc, phong kiến tay sai và cả về mãi sau này trong những năm đầu hòa bình lập lại.

 


[1] Sách Đại Nam Nhất thống chí có viết “mây hoa (hèo), sản ở huyện Quảng Phước, có sắc đen trắng xen nhau, thứ lớn thì đốt ngắn mà dày, thứ nhỏ thì đốt dài có thể dùng làm gậy và ghế ngồi”. Xưa Phước Hà Sơn có rất nhiều mây hèo nên hay gọi dãy núi này là Hòn Hèo.

[2] Nguyễn Đình Đầu (1997), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – tỉnh Khánh Hòa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 136. Mũi Cây Sung không chỉ giúp định danh Cây Sung thôn mà còn cho cả Cây Sung Hạ đê man sách (tức Ninh Tịnh, Ninh Yển của xã Ninh Phước ngày nay)

[3] Sách Đồng Khánh địa dư chí có viết nguyên văn Đàm Vân thôn là , chữ Đàm () chiết tự gồm bộ Nhật () và bộ Vân (); kết hợp với chữ Vân () ý chỉ đây là nơi có rất nhiều mây. Nó khác với chữ Đàm () nghĩa là đầm. Điều này cũng khá trùng khớp với những chứng cớ thực địa cũng như dấu tích trong dân gian về Hòn Hèo – cấu thành chủ yếu của Đầm Vân: “Hòn Hèo đội mũ/ Mây phủ Đá Bia/ Cóc nhái kêu lia/ Trời mưa như đổ/ Anh chê em nghèo khổ/ Kiếm chỗ sang giàu/ Rồi mai sau anh sụp/ Như cái đầu cầu chợ Dinh”.

[4] Bản đồ này được trích từ Bản đồ huyện Quảng Phước, phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa lưu tại Kho lưu trữ của Viện nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu [A.537/10,fO 21+, 48 x 34 cm]

[5] Theo Nguyễn Thặng (1999), Lịch sử truyền thống Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Ninh Hòa, Huyện ủy Ninh Hòa xuất bản, trang 11.

[6] Sau năm 1975, phần lớn huyện Vĩnh Xương được sáp nhập vào thị xã Nha Trang.

[7] Nguyễn Đình Tư (1969), Non nước Khánh Hòa, Sông Lam xuất bản, trang 367.

[8] Báo cáo của Tỉnh trưởng Khánh Hòa kiêm Thị trưởng thị xã Nha Trang ngày 23/9/1955, trang 2. Tài liệu lưu tại Ban Tuyên giáo Thành ủy Nha Trang.

[9] Lịch sử cách mạng xã Vĩnh Lương (1930 – 2010), trang 12.

DV công đọ 3tra cuu tinh trang su ly ho so Hệ thống một cửaEofficeso nghanh dia phuong Tra cuu tthcTra cuu van ban Tra cuu đo 3 Tra cuu hs mot cua Nộp trực tuyếnÝ kiến công dân
Tin nổi bật
THĂM DÒ Ý KIẾN



Video

7/20/2018 3:12:31 PM

 
 
 
 
 
Thiết kế website      
 
 
^ Về đầu trang